VA là từ viết tắt từ tiếng Pháp Végétations
Adénoides, là một tổ chức mà bình thường mọi em bé đều có. Bình thường dày
khoảng 2mm, khi viêm quá phát thì nó biến thành khối to gọi là sùi vòm, có thể
che lấp mũi. Sùi vòm (viêm V.A) phát triển to nhất từ 2-6 tuổi, một số trường
hợp cá biệt ta có thể thấy sùi vòm ở hài nhi và người lớn.
2. Biểu hiện của Viêm VA như thế nào?
- Sốt cao 39 – 40 độ, đôi khi
gây ra co giật.
- Nghẹt mũi: bé không thở được
bằng mũi do VA lớn che kín cửa mũi sau.
- Ngủ ngáy : thường há mồm thở
, hẹp đường thở, ngủ ngáy.
- Chảy mũi: lúc đầu chảy mũi
trong sau đó chảy mũi có màu trắng, vàng, tanh, thường xuyên chảy nước mũi.
- Tiêu chảy: do bé nuốt đàm,
dịch, mủ từ VA chảy xuống nên bụng thường khó tiêu, hay bị tiêu chảy.
- Chán ăn: do mủ, dịch từ VA
nuốt vào bụng nên thường xuyên rối loạn tiêu hoá, đầy hơi, nên chán ăn.
- Quấy khóc, giấc ngủ chập chờn
không sâu: do nghẹt mũi, khó thở nên ngủ chập chờn, hay giật mình và quấy khóc
về đêm.
- Biến chứng bộ mặt sùi vòm:
Nếu để kéo dài sẽ đẫn đến răng hô, trán rô, răng mọc không đều.
Chẩn đoán bệnh viêm VA
dựa vào tiền sử bệnh: hay sổ mũi, hay sốt vặt. Nhưng chắc chắn nhất là nội soi
vòm mũi họng, thấy VA lớn nằm ở vòm mũi họng, sần sùi, che kín cửa mũi sau.
3. Biến chứng
3.1. Biến chứng viêm
nhiễm
- Nếu viêm VA kéo dài, thể tích của VA sẽ tăng lên
gây hẹp cửa mũi sau. Do đó sẽ làm giảm lượng không khí ra vào phổi, dẫn đến
thiếu oxy cung cấp cho nãm. Lượng dịch tiết ở mũi đọng lại ngày càng nhiều,
chảy ra phía trước và nghẹt mũi, trẻ lờ đờ, ngủ không ngon giấc, dẫn đến mệt
mỏi, học hành khó tiếp thu. Ở môi trường ẩm, vi khuẩn cộng sinh trong hốc mũi
sẽ trở thành vi khuẩn gây bệnh. Nước mũi từ trong trở thành nước mũi đục, rồi
nước mũi màu trắng, màu xanh hay màu vàng.
- Biến chứng của viêm VA gây bít tắc lỗ thông khí vào
tai giữa, gây viêm tai giữa cấp, viêm tai giữa mủ, thủng nhĩ, nếu không điều
trị sẽ dẫn đến giảm thính lực.
- Viêm VA có thể dẫn đến các biến chứng như viêm
mũi, viêm xoang, viêm tai giữa cấp, viêm thanh quản, viêm khí quản và viêm phế
quản. Nếu tình trạng này kéo dài, trẻ phải thở bằng miệng, mũi ít được sử dụng
nên qua nhiều năm chóp mũi trở nên nhỏ hơn, xương hàm trên phát triển kém, răng
hàm trên mọc lởm chởm, cằm nhô ra và to hơn. Đó là vẻ mặt đặc trưng của trẻ
viêm VA người ta gọi là bộ mặt sùi vòm hay bộ mặt VA.
3.2. Biến chứng về phát
triển thể chất và tinh thần
- Trẻ bị viêm V.A thường không tập trung tư tưởng,
lười biếng, buồn ngủ, trong lớp trẻ thường học kém. Sở dĩ có hiện tượng vậy là
do trẻ nghe kém, nó không hiểu những gì thầy cô giáo nói, không thấy hứng thú
trong học tập. Muốn nghe đầy đủ bài giảng của thầy cô giáo phải cố gắng gấp 2 –
3 lần trẻ bình thường, nhưng bộ máy hô hấp của trẻ viêm V.A không đủ sức cho nó
làm việc này.
- Trí tuệ trẻ bị hạn chế, nhưng sự hạn chế này không
phải do trẻ ngu đần hay mắc bệnh tích ở não mà cụ thể do bé thở kém và nghe
kém, nếu ta giải quyết được các vấn đề này thì trẻ học hành như mọi trẻ khác.
Tiên lượng bệnh không đáng ngại nếu ta giải quyết kịp thời trước khi biến
chứng thành cố định.
4. Điều trị Viêm VA thế nào?
- Điều trị nội khoa: giữ vệ sinh răng miệng. Cho trẻ
ăn đủ dinh dưỡng. Giữ vệ sinh mũi, họng: rửa mũi, nhỏ mũi bằng dung dịch nước
muối 9%0, xúc họng nước sạch sau khi ăn. Phối hợp dùng thuốc kháng sinh, kháng
viêm, sinh tố.
- Điều trị ngoại khoa: nạo VA
- Điều trị V.A bằng tia xạ: sử dụng đối với những
trường hợp không nạo V.A được vì có nguyên nhân chống chỉ định, thường sử dụng
tia bê-ta. Tuy nhiên nó gây ra biến chứng ở tuyến yên, tuyến mang tai. Hiện nay
phương pháp này chỉ dùng trong trường hợp đặc biệt cho trẻ em lớn có bệnh rối
loạn đông máu mà thôi.
5. Khi nào nên nạo VA?
Tuổi nào mới nạo được?
Nạo VA là một phẫu thuật nhẹ nhàng, có thể tiến hành
nhanh gọn trong vài phút, ít gây biến chứng, thời gian hậu phẫu ngắn. Ngày nay
với phương pháp nạo VA dưới nội soi đường miệng, việc nạo VA trở lên dễ dàng,
không sót, thời gian mổ ngắn, không chảy máu.
Thật ra không có giới hạn về độ tuổi nạo V.A, nếu
cần thiết thì tuổi nào cũng được. Tuy nhiên các chuyên gia khuyên nên nạo
sau 18 tháng là tốt.
VA có nhiệm vụ rất quan trọng và cần thiết cho cơ
thể; do đó không nên nạo VA rộng rãi, chỉ nạo VA trong các trường hợp sau:
+ VA quá to, gây khó thở và
viêm mũi thường xuyên.
+ VA quá to, gây nghe kém, viêm
tai giữa cấp.
+ Có một trong các biến chứng
sau: Viêm amiđan, viêm thanh quản cấp, rối loạn tiêu hóa, chậm phát triển.
6. Khi nào có thể xuất viện? Chế độ ăn cho trẻ
ra sao?
Sau khi nạo VA trẻ có thể nói
chuyện ngay.
Sau khi tỉnh ăn bình thường sau
mổ 2 giờ.
Có thể xuất viện vào buổi
chiều.
Về nhà nói bình thường, ăn uống
bình thường và giữ ấm.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét